11/04/2026
Về đạo diễn PHẠM VĂN NHẬN
NGƯỜI SÓT LẠI CỦA CON TÀU MOI (báo Xuân SGTT 2010)
Hàng xóm chỉ biết ông là ông già Việt Nam giỏi giang, làm thang máy cho vợ, làm xe đạp ba bánh chạy pin mặt trời, giúp đỡ láng giềng khi có việc. Chỉ vậy thôi, cho đến ngày ông xuất hiện trên... báo. Tôi biết ông nhiều hơn, bởi ông là bố dượng của chồng tôi. Chúng tôi gọi ông là chú, chú Phạm văn Nhận.
CUỘC LY HƯƠNG LỊCH SỬ
Sau ba năm điều tra, Pierre Daum, nguyên phóng viên báo Le Monde và Libération, đã tìm được 25 nhân chứng để đưa ra ánh sáng một trang sử thuộc địa bị che giấu về những người lao động Việt Nam. Không nhận mình là nhà sử học, tác giả quyển sách « Nhân công Đông Dương - Di cư cưỡng bức » ra mắt năm 2009 nói mục tiêu của ông là giữ lại cho các nhà nghiên cứu tương lai một chứng từ lịch sử của những tác nhân trực tiếp. Lịch sử đó ghi rằng, năm 1934, một chính sách về cưỡng bức lao động của chính phủ Pháp quy định trong trường hợp « mẫu quốc » có nguy cơ bị xâm lược, người lao động thuộc địa có thể được trưng dụng cho nước mẹ. Năm 1939, Pháp thành lập cơ quan Lao động thuộc địa MOI (Main d’oeuvre indigène) tuyển mộ 20.000 nhân công Việt Nam – phần lớn bị cưỡng bức - đưa sang Pháp thay thế công nhân nước này phải nhập ngũ trong thế chiến thứ hai. Thú thật, trừ bìa bốn và một vài giới thiệu trên báo chí, tôi chưa đọc hết sách của Pierre Daum, bởi tôi có « quyển sách sống » trong nhà.
Người ta gọi ông là đạo diễn phim, nhưng cuộc đời ông cũng là cuốn phim chưa kết thúc. Người làng Đông Ngạc, cậu học trò Phạm văn Nhận luôn ước ao một lần đến Pháp thăm vườn Luxembourg. Mùa thu năm 1939, chàng trai 19 tuổi tự nguyện bước lên tàu vượt biển, với số hiệu Z-T-w 605.
Là phiên dịch, Nhận được cấp riêng một cabin nhưng ông bất nhẫn trước nỗi đau đồng hương, mà như mô tả của một cựu sĩ quan Pháp trong sách Pierre Daum, là “ những tên nhà quê bị đối xử như nô lệ ”. Nhận không bao giờ quên cảnh hàng loạt nông dân bị nhét trong các khoang hầm chật chội, giường ba tầng san sát. Cảnh người trên say sóng nôn xuống người bên dưới và không ai được tắm rửa. Không bao giờ quên tiếng khóc đàn ông – những người bỗng dưng bị bứt khỏi gia đình…
Sau một tháng băng biển, chàng trai ngoại ô Hà Nội không tới vườn Luxembourg mà xuống cảng Marseille giá băng. Tất cả bị đưa vào nhà tù Les Baumettes, chia thành đội, phân đi khắp nước Pháp làm những công việc nhọc nhằn, nguy hiểm như thợ xẻ, thợ nhồi thuốc súng... Từ nông dân, họ trở thành những công nhân không lành nghề ONS (ouvriers non spécialisés), sống trong các trại tập trung được cai quản bởi những tên sĩ quan tham ác. Một lần, Phạm văn Nhận suýt bị đi đày ở Sorgues tỉnh Vaucluse do dám mắng phó giám đốc MOI, đại tá Decotton “Đồ ăn cắp”, khi bắt gặp hắn cắt xén thực phẩm của ONS.
Ông kể cuộc sống của nhân công Việt Nam khi đó thật bi đát: không biết tiếng, không được trả lương thỏa đáng, đói rét, cộng nỗi nhớ nhà, nỗi nhục bị bêu rếu những điều ghê tởm - như ăn thịt trẻ con… - đã khiến các lực điền Việt Nam nhanh chóng suy kiệt, chết mòn vì bệnh tật. Nhắc lại giai đoạn này, báo Le Soir 18/5/2009 đã không ngần ngại dùng thẳng tựa “Khi nước Pháp nhập khẩu nô lệ từ Việt Nam”.
LÚA CAMARGUE và TỰ DO
Là một trong 1.000 người chọn ở lại Pháp sau chiến tranh, Phạm Văn Nhận hiện sống ở miền nam, thị trấn La Grande Motte. Lâu rồi, sau khi chỉ tôi xem bức ảnh dân ta trồng lúa bên tây, ông chở tôi đi thăm ruộng Camargue. Nhìn cánh đồng nước mênh mông nên thơ, tôi nói vui chỉ cần để vào đây chiếc xuồng ba lá thì có thể quay phim Việt Nam. Ông nói nơi đây không từng nên thơ như những gì con thấy. Nơi đây, như báo La Provence viết: “ Nhiều cơ nghiệp lớn đã được xây trên lưng những người nông dân bị đối xử tàn tệ”.
Ông nói thổ nhưỡng Camargue tốt nhưng khí hậu khắc nghiệt; dân Pháp do vậy bỏ ruộng hoang hoặc canh tác chiếu lệ. Chính phủ Vichy - chính quyền Pháp cộng tác Đức quốc xã - khi này nảy ra sáng kiến sử dụng tay nghề của nông dân An-nam, đưa họ đi trồng lúa với lương công nhật 1 quan, trong lúc dân Pháp lao động 5 quan mỗi …giờ! Vụ thu hoạch đầu tiên năm 1941 làm chính quyền Vichy hả dạ. Lúa trở thành đặc sản thứ tư của Camargue sau bò mộng, ngựa trắng, hồng hạc. Thế nhưng, cho đến ngày 9/12/2009, người lao động Đông Dương không hề được nhắc tới.
Tiếng Pháp tốt, Phạm Văn Nhận luôn được giữ làm việc ở văn phòng MOI; nhưng khi ông chụp ảnh, tố cáo sự vô nhân trong các trại thì bị đe dọa trừng phạt. Nhận bỏ trốn nhiệm sở, làm phóng viên tự do. Ông kể sau chiến tranh, năm 1946 – 1952, Pháp tổ chức đưa các ONS về nước. Ngoài 1.000 người chết và 1.000 khác chọn ở lại Pháp theo ước tính, 18.000 nhân công Việt cay đắng quy hương với hai bàn tay trắng và tuổi trẻ bị đánh mất. Phần ông, dù chọn ở lại, nhưng do chứng kiến sự tàn tệ của thực dân, ông và nhiều ONS tích cực tham gia phong trào chống Pháp. Khi chủ tịch Hồ Chí Minh sang thăm chính thức nước Pháp song song hội nghị Fontainebleau, Phạm văn Nhận đã xung phong giúp nhà quay phim Mai Thứ. Đưa tôi bức ảnh Hồ chủ tịch tiếp người Việt Nam tại công viên Bagatelle, ông nói: “Cụ dặn chú và các ONS phải học nghề cho giỏi”.
Từ việc phụ quay và lời khuyên của Hồ chủ tịch, Nhận theo học nghề điện ảnh, bắt đầu bằng phim tài liệu, sau đó là các phim truyện Một trang nhật ký, Hai thế giới, Giá hạnh phúc, Vì đâu nên nỗi. Năm 1954, ông về nước hợp tác với hãng phim Mỹ Phương sản xuất Lòng nhân đạo, Giọt máu rơi, trong đó Giọt máu rơi bị chính quyền Saigon cấm chiếu. Hiện viện tư liệu điện ảnh Việt Nam vẫn lưu hồ sơ sáu phim này. Ông nói ông có duyên điện ảnh: Bản thân làm điện ảnh, đạo diễn Phạm Kỳ Nam là cháu gọi ông bằng chú. Giờ tôi - con dâu - cũng làm điện ảnh.
CHỜ CUỘC QUAY VỀ
Được mời tiếp xúc bạn đọc cùng Pierre Daum tháng 6/2009, ông già Nhận thao thức nhiều đêm vì ký ức bảy mươi năm. Không hẳn là nạn nhân nhưng ông rất vui làm nhân chứng cho nỗi thống khổ đồng bào, vui những bức ảnh riêng - chứng từ duy nhất của giai đoạn này - được sử dụng không nhuận bút. Giống như người cùng thời Lê Bá Đảng, ông nói ông muốn quên quá khứ ; nhưng chọn sống gần Camargue, tôi tin quá khứ trong ông chưa chịu ngủ. Không chỉ những con cá đỏ lội trong hồ có tiểu cảnh ngôi chùa nhỏ, không chỉ những chiếc ghế cẩn rồng trong phòng khách, “góc châu Á” của ông, như chữ của báo Midi Libre, còn có nhiều thứ khác: bàn thờ tổ tiên luôn hương khói, dăm người bạn cùng cảnh, tấm hộ chiếu Việt Nam sau nhiều thập kỷ ly hương…
Chín năm nay, từ mẹ chồng tôi mất, ông sống một mình với lọ tro của bà, lâu lâu con cháu ghé thăm. Đưa tôi những bức hình xưa, ông nói ông muốn lịch sử - không phải của riêng ông - được tiếp tục gìn giữ. Ông mãn nguyện, thanh thản, và luôn luôn hài hước. Thi thoảng ông hát, là khi ông nhớ “những buổi lao động về khuya, phải đạp xe xuyên rừng nhiều cây số không bóng người, chú phải hát thật to cho bớt sợ ». Là người làm vệ sinh cho vợ lúc lâm chung, nên mỗi lần thấy mệt, ông cố đi tắm rửa, thay quần áo đẹp, nằm yên chờ đợi… Vậy rồi sáng hôm sau, vẫn sống. Lại cười, lại đạp xe năng lượng mặt trời ra biển, lại giúp xóm giềng sửa chữa các hư hóc… Biết tôi đặt tên bài báo là Người sót lại của con tàu MOI , ông nói công nhân MOI ngày xưa vẫn giễu mình là MỌI khi thêm dấu nặng.
Ngày 9/12, sau hơn nửa thế kỷ làm ngơ, chịu sức ép bởi báo chí Pháp và công luận, trong đó quyển Le petit mandarin của ONS Lê Hữu Thọ và tác phẩm của Pierre Daum là giọt nước tràn ly, thị xã Arles thuộc vùng Camargue quyết định tổ chức lễ ghi công những người lao động Đông Dương (SGTT 16/12/2009). Khi được mời tham dự với tư cách một trong mười nhân chứng, Phạm văn Nhận và các nhân chứng khác rất vui Không phải vui cái huy chương vuốt ve trễ muộn, mà vui cho những người đã khuất. Nhưng niềm vui vẫn không trọn: Ông Lê Hữu Thọ - người xứng đáng được ghi công nhất đã ra đi trước ba tháng. Ông Bùi văn Diễm ra đi đúng ngày làm lễ!
Năm nay 90 tuổi, ông dặn chúng tôi khi ông mất nhớ mang tro của ông và tro mẹ chồng tôi thả ra biển rộng. Ông nói những hạt tro sẽ băng biển quay về … VIỆT LINH
Ảnh :
- Phạm văn Nhận với số hiệu lên tàu.
- Bác Hồ và Việt kiều ở công viên Bagatelle năm 1946, Phạm Văn Nhận ngồi giữa.
- Phạm văn Nhận mặc đẹp mừng năm 90 tuổi